Trong xu thế hiện nay, đặc biệt là ngành công nghiệp
điện lạnh thì máy nén
lạnh rất phát triển, có nhiều chủng loại và không thể thiếu trong sản
xuất, cũng như bảo quản. Máy nén lạnh là một thiết bị quan
trọng đáp ứng cho việc điều hòa không khí, làm lạnh cho các công trình
và thiết bị ở quy mô lớn. Chúng ta cùng tìm hiểu về nó và quá
trình hoạt động của máy nén lạnh.
Cấu
tạo của máy nén lạnh gồm có: dàn nóng, dàn lạnh, ống dẫn
gas lạnh nối giữa 2 dàn.
·
Dàn nóng được lắp bên ngoài, là dàn trao đổi nhiệt kiểu ống
đồng cánh nhôm. Dàn nóng có cấu tạo cho phép lắp đặt ngoài trời mà
không cần che chắn mưa. Không nên để máy tiếp xúc trực
tiếp với ánh nắng mặt trời vì nó sẽ làm giảm hiệu quả làm việc của máy.
Trong dàn nóng có quạt kiểu hướng trục, giải
nhiệt và máy nén với nhiệm vụ cung cấp gas lạnh vào trong dàn lạnh. Dàn nóng có
lúc chạy, lúc nghỉ thì gas sẽ được cung cấp đủ cho dàn lạnh và như vậy máy sẽ hoạt
động tốt hơn. Khi dàn nóng hoạt động, dàn lạnh mới tạo được hơi lạnh. Khi dàn
nóng nghỉ thì dàn lạnh không tạo hơi lạnh và nó sử dụng nhiều điện nhất.
·
Dàn
lạnh được lắp bên trong, là dàn trao
đổi nhiệt kiểu ống đồng cánh nhôm. Dàn lạnh có trang bị quạt kiểu ly tâm (lồng
sóc) chạy liên tục
nhằm luân chuyển và phân tán không khí đều trong phòng.. Và dàn lạnh tiêu thụ
điện ít hơn so với dàn nóng.
·
Ống
dẫn gas lạnh nối giữa 2 dàn có nhiệm vụ dẫn gas lạnh từ dàn nóng cấp cho dàn
lạnh và ngược lại.
Nguyên lý hoạt động của máy nén
lạnh
·
Trong quá
trình máy hoạt động thì dàn lạnh chạy suốt không nghỉ, còn dàn nóng lúc chạy lúc nghỉ phụ thuộc vào nhiệt độ trong phòng
đã đạt hay chưa.
·
Trong
dàn lạnh, gas lạnh sẽ sôi ở nhiệt độ thấp và tiến hành làm lạnh các bộ phận
trong dàn. Nhiệt độ sôi của máy phụ thuộc vào nhiệt độ cần làm lạnh. Bên trong
dàn lạnh có một cảm biến dùng để đo nhiệt độ trong phòng. Cảm biến có nhiệm vụ cảm nhận nhiệt độ trung bình của không khí trong
phòng về dàn lạnh. Khi nhiệt độ trong phòng cao hơn nhiệt độ cài đặt khoảng
1-2°C thì dàn nóng sẽ chạy. Khi dàn nóng hoạt động sẽ cung cấp gas lỏng tới
dàn lạnh, gas lỏng bốc hơi trong dàn lạnh và thu nhiệt không khí đi qua dàn
lạnh, không khí mất nhiệt nên nhiệt độ giảm xuống. Khi nhiệt độ không khí trong
phòng giảm xuống bằng nhiệt độ cài đặt lúc đầu thì dàn nóng ngưng hoạt động.
·
Dàn
nóng thì hoạt động ngược lại với trong dàn lạnh. Gas lạnh từ trạng thái hơi tỏa
hơi nhiệt ra không khí và chuyển sang trang thái lỏng nhưng ở áp suất cao.
Nhiệt độ của dàn nóng phụ thuộc vào khả năng làm mát của dàn. Nhiệt độ không
khí càng thấp thì nhiệt độ ngưng càng thấp và lúc này máy lạnh sẽ làm việc hiệu
quả.
·
Để
tăng cường khả năng trao đổi nhiệt giữa dàn nóng và dàn lạnh có các cách trao
đổi nhiệt dưới các hình thức khác nhau, có thể là qua các tấm nhôm mỏng…
·
Gas
lạnh sau khi ngưng có áp suất cao và nhiệt độ gần bằng nhiệt độ của môi trường
bên ngoài. Để gas có nhiệt độ thấp người ta cho nó qua một ống có đường kính
rất bé, gọi là ống mao dẫn. từ dàn nóng đến dàn lạnh sẽ đi qua ống mao dẫn này
sẽ làm giảm áp suât và nhiệt độ của gas.
·
Trong dàn lạnh ga lại nhận
nhiệt của vật cần làm lạnh, sau đó lại được máy nén hút và nén lên đến áp suất
cao. Như vậy ta nói ga lạnh đã thực hiện được một chu trình lạnh và quá trình
cứ thế lặp đi, lặp lại cho đến khi máy bị hỏng.
·
Đối với các loại máy nén lạnh có năng suất lạnh lớn để
giảm áp suát và nhiệt độ từ dàn nóng đến dàn lạnh người ta dùng van tiết lưu.








0 nhận xét:
Đăng nhận xét